Các bài viết

Nghiên cứu khoa học trong sinh viên

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG SINH VIÊN: CẦN CÁCH TIẾP CẬN MỚI

Vũ Thế Dũng

Chất lượng và số lượng các nghiên cứu khoa học trong sinh viên gần đây trở thành chủ đề trên nhiều diễn đàn công luận. Số lượng đề tài tăng lên nhưng khả năng ứng dụng của các đề tài còn hạn chế. Tỷ lệ sinh viên tham gia nghiên cứu tăng lên nhưng tính thụ động trong học tập và nghiên cứu vẫn chưa được cải thiện đáng kể. Nhiều đề tài tốn rất nhiều thời gian, công sức và chi phí của sinh viên nhưng không được (hay không thể ứng dụng) gây lãng phí. Số liệu thống kê về vấn đề này cũng không đồng nhất, một số ý kiến cho rằng rất ít sinh viên hiện nay tham gia nghiên cứu khoa học, một số khác lại cho rằng hiện nay chúng ta đang lạm phát các đề tài nghiên cứu của sinh viên. Nói chung, có thể tìm thấy rất nhiều các ý kiến tranh luận với các câu hỏi khác nhau về vấn đề này.
NCKH trong sinh viên: Kết quả hay Quá trình?
Điểm khởi đầu của các tranh luận là thống nhất các khái niệm cơ bản. Do vậy, để đánh giá tình hình “nghiên cứu khoa học trong sinh viên”, chúng ta cần bắt đầu xem xét từ khái niệm căn bản: thế nào là nghiên cứu khoa học nói chung? Nghiên cứu khoa học trong sinh viên có gì khác biệt? Mục tiêu chính của hoạt động này trong sinh viên là gì? Trả lời thống nhất được các câu hỏi này chúng ta sẽ có cái nhìn cụ thể hơn về vấn đề đang bàn.
Ở mức ý nghĩa nghiêm ngặt nhất, nghiên cứu khoa học là công việc đi tìm lời giải thích và thực hiện các dự báo cho các câu hỏi mà khoa học và thực tiễn chưa có đáp án nhằm góp phần gia tăng tri thức nhân loại. Với cách đặt vấn đề này, nghiên cứu khoa học là công việc chuyên nghiệp, của các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp – thông thường là những người có bằng Tiến sĩ ở các chuyên ngành. Bằng thạc sĩ (master) ở các nước cũng chủ yếu để đi làm chứ không phải là bằng cấp nghiên cứu. Chúng ta cũng cần phân biệt rõ hai thành phần trong nghiên cứu khoa học: hoạt động nghiên cứu (quá trình thực hiện nghiên cứu) và kết quả nghiên cứu (mức độ đóng góp cho khoa học, mức độ ứng dụng giải quyết vấn đề thực tiễn).  Hai thành phần này cũng chính là hai tiêu chí để đánh giá một công trình nghiên cứu. Như đã trình bày ở trên, ở ý nghĩa nghiêm ngặt nhất, kết quả nghiên cứu là thang đo quan trọng nhất đối với các công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp được đầu tư đầy đủ.
Tuy nhiên nếu dùng cách tiếp cận này để đặt mục tiêu và đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên đại học (và cả cao học?) thì không ổn vì một một số lý do: (1) mục tiêu đào tạo của bậc học này chưa phải là đào tạo ra các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, (2) do vậy đầu tư cho hoạt động này ở bậc học này là hạn chế, (3) mục tiêu chính của nghiên cứu khoa học ở bậc này là trang bị cho sinh viên các kiến thức, kỹ năng nghiên cứu khoa học độc lập để hỗ trợ cho hoạt động học tập và chuẩn bị cho các dự án thật sau khi tốt nghiệp. Do vậy, khi tiếp cận nghiên cứu khoa học trong sinh viên, mục tiêu nên đặt nhiều trọng số vào hoạt động nghiên cứu hay quá trình tiến hành nghiên cứu (phát hiện vấn đề, xây dựng đề cương, tổ chức thực hiện, phương pháp thực hiện, tìm kiếm tài liệu, thu thập thông tin, thí nghiệm, quan sát, phân tích số liệu, thử nghiệm kết quả, viết báo cáo, trình bày báo cáo) chứ không đặt nặng vào kết quả nghiên cứu/ sản phẩm cuối cùng. Chính vì vậy khi đánh giá tình hình nghiên cứu khoa học trong sinh viên, cái chúng ta cần đánh giá đầu tiên chính là chất lượng của hoạt động nghiên cứu khoa học, hay khả năng của sinh viên nói chung trong việc hình thành các ý tưởng và triển khai (một phần hay toàn bộ) quá trình nghiên cứu một các khoa học.
NCKH từ ngay trong hoạt động động đào tạo hàng ngày
Từ cách tiếp cận này, hiện trạng nghiên cứu khoa học trong sinh viên không thể được đánh đồng với số lượng / chất lượng các đề tài nghiên cứu cấp Bộ. Đây chỉ là một mặt cắt, mà mặt cắt này có thể bị lệch lạc khi được đặt quá nhiều trọng số bởi nó chỉ thể hiện được kết quả nghiên cứu của một bộ phận sinh viên (ưu tú), chứ không đánh giá được năng lực nghiên cứu nói chung của giới sinh viên Việt Nam. Để đánh giá một cách cơ bản và toàn diện, chúng ta cần đánh giá hoạt động này ngay từ trong hoạt động đào tạo và phương pháp đào tạo của từng trường, từng chương trình đào tạo, từng môn học. Chương trình đào tạo có được cấu tạo hợp lý để hỗ trợ phát triển kỹ năng và kiến thức nghiên cứu cho sinh viên hay không? Sinh viên có được khuyến khích, dành thời gian và điều kiện để tiếp cận các nguồn thông tin nghiên cứu mới nhất không? Chất lượng thư viện, internet, phòng thí nghiệm thế nào? Trong từng môn học, sinh viên có được hướng dẫn và yêu cầu thực hiện các đề án môn học mang tính nghiên cứu hay không? Quan hệ nghiên cứu giữa giảng viên và sinh viên thế nào? Có nhiều đề tài của giảng viên sử dụng trợ lý là sinh viên hay không?
Rõ ràng là nếu được cấu trúc tốt,  nghiên cứu khoa học trong sinh viên không là cái gì xa vời, nó nằm ngay trong hoạt động đào tạo của các trường. Nó bắt nguồn từ những việc nhỏ như sinh viên tự tìm đọc tài liệu, các công trình nghiên cứu trên các tạp chí khoa học, trao đổi với nhau (và với giảng viên) ở các diễn đàn chính thức và không chính thức đến việc thực hiện các đề án môn học, luận văn tốt nghiệp hay cao hơn là các đề tài nghiên cứu độc lập. Thực tiễn cho thấy sinh viên học được rất nhiều từ việc thực hiện các đề án môn học như sử dụng thư viện, internet, tìm, đọc và tổng kết tài liệu, xác định vấn đề, phương pháp thực hiện, làm việc nhóm, trình bày và bảo vệ…Một đề án môn học hay một luận văn tốt nghiệp có thể chưa hoàn thiện về giải pháp nhưng thể hiện được sự đầu tư lớn của tác giả vào việc tìm tòi, vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học thì cũng đã có thể xem là đạt được mục tiêu đề ra. Vì có lẽ cái quan trọng nhất của bậc học này là việc sinh viên độc lập vận dụng và thực hiện hoàn chỉnh một qui trình nghiên cứu khoa học, thấy được những trở ngại, thấy được những khó khăn và xử lý các khó khăn đó. Quá chú trọng vào kết quả còn dẫn đến việc nhiều đề tài na ná nhau vì sợ rủi ro khi thực hiện các đề tài mới, lĩnh vực mới.
Tất nhiên trong điều kiện còn nhiều hạn chế của các trường hiện nay, nghiên cứu khoa học của sinh viên dù chỉ ở mức các đề án môn học cũng còn nhiều khó khăn như thiếu tài liệu, khả năng ngoại ngữ của sinh viên, năng lực hướng dẫn nghiên cứu của giảng viên, trang thiết bị nghiên cứu… Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất thường thấy lại ở chỗ sinh viên hiện nay chưa được trang bị tốt phương pháp nghiên cứu nên hầu hết đều loay hoay không biết bắt đầu từ đâu, làm gì và muốn đạt kết quả nào, cho ai. Chương trình học hiện nay khá nặng với rất nhiều môn học nhưng lại rất hiếm các môn học về phương pháp nghiên cứu chuyên ngành – một kỹ năng quan trọng của những người lao động tri thức. Có lẽ cần thêm vào các môn học hoặc chuyên đề (bắt buộc hoặc tự chọn) về phương pháp nghiên cứu – môn học loại này không chỉ nâng cao khả năng nghiên cứu của sinh viên mà còn hỗ trợ tốt việc tiếp thu các môn học khác.
Một phương pháp khác nhằm đẩy mạnh giao lưu nghiên cứu trong nội bộ các trường và giữa các trường, khoa là các hội thảo chuyên môn mini được tổ chức hàng tuần hay hàng tháng mở rộng cho mọi thành phần (giảng viên, sinh viên, những người quan tâm) – nội dung là việc báo cáo các hướng nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, dự án nghiên cứu, hay trao đổi bình luận các bài báo khoa học mà báo cáo viên có thể là bất cứ ai. Chi phí tổ chức các buổi hội thảo hầu như không đáng kể vì diễn giả cũng chính là người tham dự và cả hai bên đều có nhu cầu chia sẻ thông tin. Quan sát ở một số trường đại học nước ngoài và ở khoa Quản Lý Công Nghiệp (ĐH Bách Khoa Tp.HCM), các hội thảo này đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành các môi trường nghiên cứu, trao đổi chuyên môn. Nó cũng là cơ hội cho sinh viên tích lũy kinh nghiệm và phương pháp nghiên cứu từ những người đi trước, cũng như tham gia vào các dự án nghiên cứu do giảng viên thực hiện. 
Cuối cùng, nói như trên cũng không có nghĩa là chúng ta coi nhẹ việc đánh giá các kết quả tìm được trong các nghiên cứu của sinh viên. Một số sinh viên xuất sắc vẫn có thể thực hiện những nghiên cứu hoàn chỉnh với kết quả thực sự có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Đây là nhóm đối tượng tài năng cần có những đầu tư đặc biệt để thăng hoa còn trên bình diện số đông thì một cách tiếp cận chính xác về nghiên cứu khoa học trong sinh viên sẽ mang lại những hiệu quả xã hội cao hơn.
Bài viết đã đăng trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật, ngày 15/1/05
http://usa.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=63652&ChannelID=7